Hỗ trợ trực tuyến

Hòm thư góp ý

Phiếu góp ý/
Opinion sheet
Rất mong nhận được các ý kiến đóng góp của quí bạn đọc

Liên kết Website

Số liệu thống kê

  • Số lượng đọc giả: (2568)
  • Số đầu sách: (164)
  • Số cuốn sách: (607)
  • Luận văn: (718)
  • Tài liệu số: (6255)

Lượt truy cập

Thành viên: 0
Khách: 60

Ngày nay, hành vi thông tin (HVTT) là một phân ngành trong lĩnh vực khoa học thông tin và là một lĩnh vực liên ngành với nhiều quan điểm khác nhau như tâm lý học nhận thức, hành vi tổ chức, truyền thông, triết học, nhân chủng học, sinh học và triết học tiến hoá, trong đó có khoa học thư viện - thông tin. Thuật ngữ HVTT xuất hiện từ những năm 1990 với nguồn gốc khái niệm nhu cầu tin, sử dụng thông tin đã có từ những năm 1960 [1]. Nhiều nhà nghiên cứu về HVTT đã tập trung từ định hướng hệ thống đến định hướng người dùng tin (NDT). Trong những năm 1970, các nghiên cứu bắt đầu nhấn mạnh đến yếu tố cá nhân như người tìm kiếm và sử dụng thông tin.

Xét về lĩnh vực thư viện - thông tin, ALA - Từ điển giải nghĩa thư viện học và tin học Anh - Việt đã đưa ra định nghĩa marketing là: “Một nhóm hoạt động có mục đích dùng để cổ vũ cho sự trao đổi một cách xây dựng và đáp ứng giữa nhà cung cấp dịch vụ thư viện và truyền thông với người đang sử dụng hay có thể là người sử dụng những dịch vụ này. Những hoạt động này quan tâm đến sản phẩm, giá cả, phương pháp giao hàng và phương pháp quảng bá sản phẩm” 

Sự phát triển của công nghệ di động (mobile technology) đã tạo ra một xu hướng mới cho hoạt động thư viện, đó là cung cấp các dịch vụ và khả năng truy cập vào các nguồn tài nguyên thông tin theo phương thức không những từ xa mà còn là di động. Nói một cách khác, việc ứng dụng công nghệ di động vào hoạt động thư viện giúp người dùng tin tiếp cận với các dịch vụ thư viện và các nguồn thông tin thông qua một màn hình vào bất kỳ lúc nào và không cần phải ở một vị trí cố định.

Nhu cầu đọc xã hội thường được đề cập nhiều trong ngành xuất bản. Nhu cầu đọc xã hội trong ngành xuất bản còn được gọi là nhu cầu xuất bản phẩm [7]. Các nhà xuất bản khi xuất bản một tên sách bắt buộc phải chú ý tới nhu cầu đọc xã hội để cân nhắc có nên xuất bản hay không? Số lượng là bao nhiêu? Nếu xác định không chính xác, sai lệch sẽ dẫn tới sách không bán được, bị ế, nhà xuất bản bị thua lỗ. Đây là điều kiện tiên quyết để nhà xuất bản tồn tại và phát triển. Tất nhiên còn có nhiều lĩnh vực khác cũng sử dụng cụm từ “nhu cầu đọc xã hội”, ở đây chỉ xin nêu một ví dụ tiêu biểu.

Hiện nay, người tìm tin có thể sử dụng các công cụ khác nhau để tìm tin trên Internet như công cụ tìm kiếm (Search Engine), danh bạ web (Web Directory), cơ sở dữ liệu chuyên dụng (Specialized Database)…, trong đó công cụ tìm kiếm được xem là thông dụng nhất.

Ngày nay, công nghệ thông tin (CNTT) và truyền thông phát triển không ngừng, được ứng dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề trong đó có các thư viện (TV). Thực tế cho thấy, tuy chưa phải là hoàn hảo, song có thể nói, trong những năm qua CNTT cũng đã làm thay đổi tư duy, diện mạo trong hoạt động của nhiều TV nước ta. Nhờ CNTT mà công tác tổ chức, quản lý, khai thác nguồn lực thông tin (NLTT) và các sản phẩm, dịch vụ (SP-DV) thông tin - thư viện (TT- TV)

Chính sách là quan điểm, phương hướng và cách thức chung, sau khi được cấp trên có thẩm quyền phê duyệt và ban hành thành văn bản chính thức sẽ là cơ sở, tài liệu chỉ dẫn để ra quyết định quản lý ở các cấp. Trong phục vụ nguồn tài nguyên thông tin, để không vi phạm Quyền tác giả (QTG), các thư viện phải định ra một số chính sách liên quan đến QTG giúp cho việc giải quyết các vấn đề thực tiễn cụ thể trong những tình huống khác nhau và giúp cho việc thống nhất kế hoạch phục vụ tại các bộ phận chức năng....

Như chúng ta đã biết, trong biên mục mô tả xuất bản phẩm nhiều kỳ, cần lưu ý đặc biệt đến việc mô tả thông tin đặc thù của dạng tài liệu này. Thông tin đặc thù ở đây chính là thời gian xuất bản và/hoặc số thứ tự (tương ứng với vùng 3 trong tiêu chuẩn ISBD là vùng đặc thù của xuất bản phẩm nhiều kỳ [ấn phẩm tiếp tục]) (AACR2 12.3). Thời gian xuất bản và/hoặc số thứ tự còn được gọi là các định danh được mô tả trong các trường 362/500 của MARC 21.

Vấn đề “thống nhất và chuẩn hóa” về tổ chức và nghiệp vụ của thư viện Việt Nam đã được các nhà lãnh đạo Vụ Thư viện - Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nêu lên khá sớm, từ những năm cuối của thế kỷ trước..

Trong báo cáo của Thư viện Quốc gia tại Hội nghị “Sơ kết 3 năm áp dụng khung phân loại DDC trong ngành thư viện Việt Nam” đã nêu rõ:“Hiện nay DDC được áp dụng phổ biến trong các hệ thống thư viện công cộng và thư viện các trường đại học, tuy nhiên, hệ thống các thư viện chuyên ngành khoa học công nghệ gần như chưa áp dụng”.